Đèo Le – tường thành của lòng yêu nước

0
51

Bên cạnh đồng bằng, sông biển thì đèo núi hùng vĩ là một đặc điểm của vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Ngoài một số ngọn đèo lớn hiểm trở từ xưa được chọn làm địa giới hành chính giữa các tỉnh thành như đèo Ngang, Hải Vân, An Khê, Phượng Hoàng hay đèo Cả thì còn có nhiều ngọn đèo nằm gọn trong một địa phương, mà tiêu biểu là đèo Le linh thiêng và quyến rũ của đất Quảng.

Thật khó kể hết những ngọn đèo nằm trong lòng các tỉnh thành nước ta, nhất là miền Trung và Tây Nguyên. Xa xa phía bắc miền Trung là đèo Noọng Dẻ của Nghệ An, đèo Keo Nưa ở Hà Tĩnh, đèo Mụ Giạ và Đá Đẽo của Quảng Bình, đèo Làng Vây ở Quảng Trị, đèo Kim Quy và Tà Lương của Thừa Thiên – Huế. Đi về phía nam là đèo Mũi Trâu của Đà Nẵng, đèo Le và Ba Ví ở Quảng Nam, đèo Cóp và Cà Đáo của Quảng Ngãi, đèo Nhông ở Bình Định, đèo Quán Cau và Tam Giang ở Phú Yên, đèo Cổ Mã và Bánh Ít của Khánh Hòa, đèo Cậu ở Ninh Thuận, đèo Bà Sa ở Bình Thuận. Ngược lên Tây Nguyên là đèo Lò Xo và Măng Đen của Kon Tum, đèo Măng Yang ở Gia Lai, đèo M’Đrăk ở Đắk Lắk, đèo Chuối, Bảo Lộc và Prenn của Lâm Đồng… Mỗi tên đèo gắn liền với di sản ngôn ngữ và đặc điểm văn hóa của mỗi vùng đất. Những người thích khám phá chỉ nghe qua những cái tên ấy đã muốn tìm đến. Đèo Le là một trong những cái tên gây tò mò.

Nhà thơ Phan Hoàng và nhà văn Trương Anh Quốc trên đỉnh đèo Le – Ảnh: CTV

Con đường của tình yêu quê hương

Nếu tính từ ngã ba Hương An trên quốc lộ 1 đến chân đèo Le khoảng cách hơn 30km theo tỉnh lộ ĐT611 về phía tây. Còn tính từ TP Tam Kỳ thì đèo Le cách gần 60km về phía tây bắc, cách TP Hội An hơn 47km về phía tây và cách TP Đà Nẵng gần 70km về phía tây nam. Đèo Le trước đây nằm gọn trong lòng huyện Quế Sơn. Kể từ tháng 4/2008 khi có quyết định của Chính phủ tách một số xã phía tây huyện Quế Sơn thành lập thêm huyện Nông Sơn thì đèo Le trở thành ranh giới giữa hai huyện trung du và miền núi của tỉnh Quảng Nam. Đoạn đường qua đèo Le dài hơn 7km, xuyên qua núi Hòn Tàu có độ cao hơn 500m. Theo nhà văn Trương Anh Quốc quê Quế Sơn, các cụ lớn tuổi cho biết ngày xưa đây là con đường mòn xuyên rừng rậm núi cao do người dân hai bên đèo tự khai phá để đi lại mua bán trao đổi nông hải sản. Đường dốc lượn quanh co các sườn núi đụng mây và vực sâu hiểm trở. Dây leo chằng chịt. Đá lởm chởm. Bùn lầy vào mùa mưa. Mọi người qua đèo phải đè cây đạp đá lội bùn rất cam go. Đến chân đèo bên kia ai cũng phờ phạc… le lưỡi thở. Cái tên đèo Le quen gọi từ ấy. Đến năm Đinh Sửu – 1937, các bậc danh sĩ quê Quế Sơn là Nguyễn Đình Hiến, Lâm Xuân Quế, Nguyễn Đình Dương… đã tự nguyện thành lập ban vận động lạc quyên khai phá, mở rộng con đường qua đèo Le. Sau hai năm huy động tiền của công sức của nhân dân, với bao gian nan vất vả, con đường đã hoàn thành, tạo điều kiện thuận lợi giao thương, phát triển kinh tế vùng cao bị cô lập phía thượng nguồn sông Thu Bồn. Công đầu mở đường đèo Le là Phó bảng Nguyễn Đình Hiến, người cùng với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp và Phạm Liệu được xem là “tứ kiệt” về học vấn của xứ Quảng. Và cùng với Phan Châu Trinh, Võ Vỹ, Nguyễn Mậu Hoán, Nguyễn Đình Hiến còn được dân Quảng tôn vinh là “tứ hổ”. Vào năm Canh Thìn – 1940, ông còn cẩn soạn bốn tấm bia để dựng tại đỉnh đèo ghi lại công tích mở đường và danh sách các mạnh thường quân, nhưng rồi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, bốn tấm bia bị thất lạc đến nay mới chỉ tìm được ba tấm.

Tường thành của lòng yêu nước

Trước khi Phó bảng Nguyễn Đình Hiến cùng những nhân sĩ thế hệ mình vận động mở đường thì đèo Le còn gắn liền với tên tuổi của một bậc danh sĩ yêu nước tiền bối, ấy là Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, thủ lĩnh phong trào Cần Vương xứ Quảng. Vào những năm 1885-1887, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi chống Pháp, tiến sĩ Trần Văn Dư đang là Chánh sơn phòng Quảng Nam đã đứng ra thành lập Nghĩa hội và được tôn làm Hội chủ, chỉ huy đánh chiếm một số thành trì. Quân Pháp phối hợp lính Nam triều Đồng Khánh huy động lực lượng lớn phản công và lùng sục bố ráp. Nghĩa quân thất bại nặng nề, Hội chủ Trần Văn Dư sa vào tay giặc và bị xử chém. Quyền chỉ huy Nghĩa hội Quảng Nam được giao lại cho chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu tiếp tục cuộc kháng chiến.

Nguyễn Duy Hiệu thi đỗ phó bảng lúc 32 tuổi dưới triều vua Tự Đức, được phong Hồng lô tự khanh nên người đời gọi là Hường Hiệu. Lúc đang làm quan phụ đạo tại kinh thành Huế, ông quay về quê hương cùng các chí sĩ Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến, Nguyễn Tiểu La thành lập Nghĩa hội Quảng Nam. Sau khi chính thức thay danh sĩ Trần Văn Dư làm Hội chủ Nghĩa hội Quảng Nam vào đầu năm 1886, ông cùng phó tướng Phan Bá Phiến quyết định chọn thung lũng Trung Lộc ở Quế Sơn làm căn cứ địa với tên gọi là Tân Tỉnh Trung Lộc, có đầy đủ doanh trại, kho tàng, hào lũy, thao trường, pháp trường, nhà lao… và cả văn miếu. Thung lũng Trung Lộc nay thuộc xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn vốn trải dài gần 10km từ chân đèo Le ra đến bờ sông Thu Bồn, bề ngang rộng đến 2km, nơi hẹp nhất cũng hơn 1km, với ba mặt đông, tây, nam núi cao bao bọc như bước tường thành tự nhiên. Đây là vùng giàu có về nông lâm lẫn khoáng sản, cung cấp lương thực và vật liệu chế tác vũ khí. Từ căn cứ này có thể tiến đánh địch từ mọi hướng nhờ địa hình khá phức tạp nhưng lại thuận lợi giao thông nối liền miền xuôi với miền ngược, từ phía đông sang tây qua đèo Le.

Chẳng những có con đường mòn độc đạo mà núi Hòn Tàu với đèo Le còn là bức tường thành thiên nhiên phòng thủ vững chắc cho căn cứ địa. Cuộc kháng chiến của Nghĩa hội Quảng Nam cuối cùng bị thất bại, thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu bị giặc đưa ra pháp trường xử tử, nhưng tinh thần yêu nước của ông và nghĩa quân mãi mãi bất tử cùng bức tường thành thiên nhiên đèo Le và đất thiêng Tân Tỉnh Trung Lộc, như câu thơ tuyệt mệnh của ông: “Chớ đem thành bại luận anh hùng”!. Nối tiếp hào khí của danh sĩ yêu nước Nguyễn Duy Hiệu và nghĩa quân, vùng phía tây đèo Le là căn cứ địa quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ ở thế kỷ XX.

Một vùng du lịch sinh thái và văn hóa

So với thời của các bậc chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu hay Nguyễn Đình Hiến thì đèo Le ngày nay chắc chắn có nhiều đổi khác nhưng chủ yếu vẫn mang vẻ đẹp quyến rũ và kỳ bí của chốn sơn thủy hữu tình. Con đường xuyên đèo đã mở rộng thông thoáng và an toàn. Cây cối bị chiến tranh và lâm tặc tàn phá đã được trồng trở lại lên xanh. Dòng suối Nước Mát trên đỉnh đèo vẫn quanh năm róc rách tạo nên bản nhạc rừng êm dịu du dương, giờ có thêm một hồ tắm nhân tạo từ nguồn nước mát ngọt trong lành này phục vụ du khách. Không khí oi bức trong cái nắng hè đồng bằng được thay bằng không gian xanh trong mát rượi đỉnh đèo. Ngồi bên dòng Nước Mát, nhà văn Trương Anh Quốc nói rằng người dân vùng này thường tự hào kể cho con cháu nghe chuyện công chúa Huyền Trân từng lên đây. Tương truyền thời vào làm dâu Chiêm Thành và được phong là hoàng hậu Paramecvari, thỉnh thoảng bà cùng các tì nữ lên ngắm cảnh đèo Le và tắm suối Nước Mát. Khi đấng lang quân Chế Mân đột ngột băng hà, phong tục vương triều buộc hoàng hậu phải chết theo vua. Thương em, vua Trần Anh Tông ra lệnh tướng quân Trần Khắc Chung vào tham dự lễ tang vua Chế Mân và tìm cách cứu công chúa Huyền Trân. Bà bí mật cải trang thành sơn nữ tạm lánh trên đèo Le, rồi xuôi theo dòng sông nhỏ Ly Ly ra Cửa Đại lên thuyền lớn chờ gió trở nồm căng buồm cùng Trần Khắc Chung lênh đênh trên biển trở về Đại Việt.

Rời đỉnh đèo Le chúng tôi đi tiếp sang phía tây thăm căn cứ xưa của thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu, suối nước nóng Tây Viên, dạo chợ Trung Phước, ngắm sông Thu Bồn, Hòn Kẽm – Đá Dừng và làng Đại Bình thuộc huyện Nông Sơn quê hương của nhiều nhân vật nổi tiếng. Sau đó, chúng tôi quay trở lại chân đèo Le phía đông bên huyện Quế Sơn để thưởng thức gà tre đặc sản. Đèo Le linh thiêng và quyến rũ, giàu tiềm năng trở thành điểm đến của những người quan tâm đến văn hóa, tâm linh và du lịch sinh thái. Từ đây có thể kết nối với ba đô thị Tam Kỳ, Hội An, Đà Nẵng thành những tuyến lữ hành hấp dẫn du khách.

PHAN HOÀNG